Trang chính
 
Tin tức » Khởi nghiệp » Pháp lý Online 24.09.2017 02:45
"Tư vấn pháp lý online" số 25
03.04.2012 12:50

Xem hình
Cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế thì pháp luật ngày càng có vai trò quan trọng to lớn. Việt Nam chúng ta đã và đang xây dựng một nhà nước pháp quyền mà trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu để giải quyết và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

CÂU 1:

Tôi có 2 câu hỏi sau về luật giao thông đường bộ:

1. Qua ngã 4 khi đèn xanh còn 1 đến 3 giây Khi tôi qua ngã 4 mà đèn xanh còn 1-3 giây, nhưng vì ngã 4 này hơi rộng nên khi đến giữa ngã 4 thì đèn bên hướng khác đã xanh và luồng xe đã đến. Trường hợp này tôi có vi phạm lỗi vượt đèn đỏ không ?

2. Đèn đỏ ở ngã ba thì xe máy được phép đi thẳng không ? Theo tôi biết thì đèn đỏ tất cả các phương tiện phải dửng lại. Nhưng khi gặp đèn đỏ ở ngã 3 mà trên hướng xe tôi đi có ngã rẽ bên tay trái. Vậy ở ngã 3 này, khi đèn đỏ xe máy có được phép đi thẳng không ? Theo tôi nghĩ xe máy đi thằng khi đèn đỏ trong trường hợp này thì không có ảnh hưởng gì đến hướng khác Xin cảm ơn

TRẢ LỜI

Chào bạn!

Với thắc mắc của bạn, Ban tư vấn pháp lý Online xin cung cấp một số thông tin sau:

1.     Theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ năm 2008:

Điều 10. Hệ thống báo hiệu đường bộ

….

3. Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu, quy định như sau:

a) Tín hiệu xanh là được đi;

b) Tín hiệu đỏ là cấm đi;

c) Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.

Theo đó, trong trường hợp này bạn hoàn toàn không vi phạm lỗi không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ. (Vượt đèn đỏ theo cách nói thông thường)

2.     Luật giao thông đường đường bộ 2008 cũng đã xác định rằng tín hiệu đèn đỏ là cấm đi. Vì vậy về nguyên tắc chung, thì khi gặp đèn đỏ ở bất cứ trường hợp nào, phương tiện giao thông không được phép di chuyển.

Theo Điều 11 Luật Giao thông đường bộ 2008 về việc chấp hành báo hiệu đường bộ.

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.

2. Khi có người điều khiển giao thông thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông.

3. Tại nơi có biển báo hiệu cố định lại có báo hiệu tạm thời thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của báo hiệu tạm thời.

4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.

Hay hiểu một cách khái quát hơn, trường hợp tại ngã 3 đèn đỏ như bạn trình bày, phương tiện giao thông chỉ được phép đi thẳng khi có hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc có biển báo hiệu giao thông (Biển báo Xe môtô, xe gắng máy được phép đi thẳng khi đèn đỏ).

Trong mọi trường hợp không có biển báo hiệu cho phép xe được phép di chuyển khi đèn đỏ, thì hành vi  bạn đề cập được xem là vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, mặc dù có hay không ảnh hưởng đến các phương tiện khác.

CLB Pháp Lý mến chảo !

CÂU 2

1.điều khỏan nào là điều khỏan thường lệ của họp đồng mua bán hàng hóa?

2.những điểm giống của pháp luật nước ta so với công ước viên 1980? 

TRẢ LỜI

Với thắc mắc của bạn, Ban tư vấn Pháp lý online thuộc CLB Pháp Lý xin đưa ra một vài giải đáp như sau.

1.     Điều khoản thường lệ trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng phổ biến nhất hiện nay trong các quan hệ về kinh tế. Tùy theo giá trị và mức độ rủi ro trong việc mua bán mà điều khoản của hợp đồng mua bán tăng hoặc giảm, nhưng thường một hợp đồng mua bán có các điều khoản sau:

-         Điều khoản định nghĩa: trong các bản hợp đồng mua bán tại Việt Nam thường lược bỏ hoặc xây dựng điều khoản này một cách sơ sài, tuy nhiên đây là một trong những điều khoản quan trọng cần có của một hợp đồng mua bán hàng hóa. Việc định nghĩa một cách rõ ràng và dễ hiểu các thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến hàng hóa cũng như sự kiện bất khả kháng sẽ giúp các bên dễ dàng hơn trong việc thực thi các điều khoản phía sau.

-         Điều khoản về tên hàng: Mục tiêu hợp đồng.

-         Điều khoản về số lượng và quy cách, chất lượng hàng hóa: Càng quy định chi tiết về điều khoản này càng giúp các bên tránh được các tranh chấp hợp đồng.Nếu thấy cần thiết bên mua nên đính kèm phụ lục hoặc gửi mẫu cho bên bán và bên giải quyết tranh chấp ( trọng tài).

-         Điều khoản về giá hàng hóa.

-         Điều khoản về phương thức giao nhận hàng hóa.

-         Điều khoản về địa điểm và thời gian giao hàng.

-         Điều khoản về trường hợp bất khả kháng.

-         Điều khoản về bảo hành và cách thức sử dụng hàng hóa.

-         Điều khoản về bảo quản hàng hóa.

-         Điều khoản về phương thức thanh toán.

-         Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của bên bán.

-         Điều khoản về quyền và nghĩa vụ bên mua.

-         Điều khoản về vi phạm hợp đồng và chế tài xử phạt.

-         Điều khoản về giải quyết tranh chấp.

-         Các điều khoản về ngôn ngữ và luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán quốc tế.

-         Điều khoản về hiệu lực hợp đồng.

2.     So sánh công ước viên 1980 với pháp luật Việt Nam.

-         Luật áp dụng cho hợp đồng

Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, các hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương Mại và pháp luật có liên quan (Khoản 1 Điều 1 và Khoản 1 Điều 4 Luật Thương Mại). Tuy nhiên, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại).

Ngoài ra, đối với các hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ Luật Dân Sự (BLDS) (Khoản 3 Điều 4 Luật Thương Mại) vì về mặt nguyên tắc, BLDS được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều 2 BLDS 2005).

-         Hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự giao kết một giao dịch dân sự. Luật Thương Mại không có quy định về các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực, nên chúng ta có thể dẫn chiếu các quy định trong BLDS, theo đó, giao dịch dân sự (hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) có hiệu lực khi có đủ một số điều kiện.

Về cơ bản CISG không điều chỉnh những nội dung này.

-         Giao kết hợp đồng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, việc giao kết hợp đồng được thực hiện theo nguyên tắc “Đề Nghị – Chấp Nhận” (Offer – Acceptance). Cụ thể, hợp đồng được giao kết vào thời điểm Bên Đề Nghị nhận được trả lời Chấp Nhận giao kết của Bên Được Đề Nghị hoặc Bên Được Đề Nghị im lặng (nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết), nội dung cụ thể như sau:

·         Đề Nghị giao kết hợp đồng:

Đề nghị giao kết có hiệu lực (i) theo ấn định của Bên Đề Nghị hoặc (ii) khi Bên Được Đề Nghị nhận được đề nghị đó. Bên Được Đề Nghị được xem là nhận được đề nghị khi (i) Đề Nghị được chuyển đến trụ sở của bên nhận đề nghị, (ii) Đề Nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của Bên Được Đề Nghị hoặc (iii) Bên Được Đề Nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.

Đề Nghị giao kết có thể được rút lại hoặc thay đổi nếu (i) việc thay đổi hoặc rút lại Đề Nghị được thông báo trước hoặc vào thời điểm nhận được Đề Nghị của Bên Được Đề Nghị hoặc (ii) đáp ứng điều kiện của việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị nếu có quy định các điều kiện này trong Đề Nghị.Đề Nghị giao kết chỉ có thể được hủy bỏ nếu (i) trong Đề Nghị có quy định quyền của Bên Đề Nghị có thể hủy bỏ  (ii) Bên Được Đề Nghị nhận được thông báo hủy bỏ trước khi trả lời Chấp Nhận đề nghị giao kết.

Đề Nghị giao kết được chấm dứt khi (i) Bên Được Đề Nghị không chấp nhận, (ii) hết thời hạn trả lời chấp nhận mà chưa nhận được Chấp Nhận của Bên Được Đề Nghị, (iii) thông báo thay đổi hoặc rút lại Đề Nghị có hiệu lực, (iv) thông báo hủy bỏ Đề Nghị có hiệu lực hoặc (v) các bên có thỏa thuận khác. Ngoài ra Đề Nghị có thể được sửa đổi theo đề xuất của Bên Được Đề Nghị (counter-offer). Trong trường hợp này, Bên Được Đề Nghị xem như đã đưa ra một Đề Nghị mới.

·         Chấp Nhận giao kết hợp đồng:

Chấp Nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn chờ trả lời chấp nhận đã được Bên Đề Nghị ấn định trong Đề Nghị. Quá thời hạn trên, nếu Bên Đề Nghị nhận được Chấp Nhận của Bên Được Đề Nghị, Chấp Nhận này sẽ được xem là Đề Nghị mới của Bên Được Đề Nghị đối với Bên Đề Nghị.Trong trường hợp giao tiếp trực tiếp (kể cả điện thoại hoặc các phương tiện khác), Bên Được Đề Nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 2 Điều 397 BLDS 2005). Chấp Nhận có thể được rút lại nếu đến trước hoặc vào cùng thời điểm Bên Đề Nghị nhận được Chấp Nhận này.

Đối chiếu với các quy đinh liên quan của CISG, có thể nói, ngoại trừ một số chi tiết cụ thể, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết hợp đồng đều tương thích với những nguyên tắc cơ bản của Công ước Viên 1980. Chỉ có một số khác biệt nhỏ, thể hiện ở những quy định chi tiết hơn của Công ước.

Ví dụ, CISG quy định cụ thể về điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa (gồm tên hàng, số lượng, giá cả), còn pháp luật về mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay không có quy định hợp đồng mua bán hang hóa phải có những điều khoản chủ yếu nào. Ngoài ra, CISG còn quy định rất rõ tại điều 19.3 về nội dung của chấp nhận chào hàng, qua đó có thể xác định được những sửa đổi bổ sung nào của chấp nhận chào hàng là cơ bản khiến cho chấp nhận chào hàng đó trở thành một chào hàng mới. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 không có quy định cụ thể như vậy. Ngoài ra, do yêu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế, CISG còn đưa ra quy định về việc kéo dài thời hạn hiệu lực của chào hàng khi ngày cuối cùng của chào hàng lại rơi vào ngày nghỉ hay ngày lễ, trong khi luật Việt Nam không quy định gì về vấn đề này.

-         Hình thức của hợp đồng

Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể (Khoản 1 Điều 24 Luật Thương Mại 2005). Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương Mại 2005 chỉ công nhận theo hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Theo BLDS 2005, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số loại hợp đồng có yêu cầu riêng.

CISG công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng, nghĩa là một hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản mà có thể được thành lập bằng lời nói, bằng hành vi và có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng (Điều 11 CISG). Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức của hợp đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt này không cản trở việc Việt Nam tham gia CISG vì Việt Nam có quyền bảo lưu sự khác biệt này theo điều 96 của CISG (như đã trình bày ở trên).

-         Quyền và nghĩa vụ của các bên

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán được quy định chủ yếu tại các Điều từ Điều 34 đến Điều 62 Luật Thương mại 2005. Phân tích các quy định này cho thấy chúng có nội dung gần tương tự với quy định trong các điều khoản tương ứng của CISG. Lý do của điều này một phần được cho là do trong quá trình soạn thảo, các nhà làm luật Việt Nam đã tham khảo CISG trong quá trình soạn thảo Luật này.

Điểm khác biệt đáng kể nhất được tìm thấy là trong quy định về thời hạn khiếu nại về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng. Theo Luật Thương mại Việt Nam, thời hạn này nhiều nhất là 6 tháng kể từ ngày giao hàng và đây là thời hạn phù hợp với các hợp đồng nội địa. CISG quy định thời hạn này tối đa có thể là 2 năm kể từ ngày giao hàng. Sự khác biệt này giữa Luật Thương mại và CISG là hoàn toàn có thể lý giải được do Luật Thương mại được soạn thảo để áp dụng cho hợp đồng trong nước, còn CISG được áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế (được suy đoán là thường phức tạp hơn về kỹ thuật cũng như về các quy định pháp lý tương ứng).

-         Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Về các chế tài do vi phạm hợp đồng, pháp luật Việt Nam và CISG đều quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy hợp đồng. Công ước Viên không quy định gì về phạt vi phạm hợp đồng do có nhiều quan điểm rất khác nhau giữa các nước Civil Law và Common Law về chế tài này khiến cho việc hài hòa hóa là không thể thực hiện được.

Chế tài hủy hợp đồng chỉ được áp dụng khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng. Điều 25 của Công ước và điều 3 khoản 13 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đưa ra những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm: vi phạm cơ bản là vi phạm gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho bên bị vi phạm, làm cho bên này không đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, CISG còn quy định một trường hợp được hủy hợp đồng, đó là khi bên vi phạm không không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn đã được gia hạn thêm (điều 49 khoản 1 và 64 khoản 1). Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không có quy định tương ứng.

Về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, CISG và Luật Thương mại Việt Nam cho phép trái chủ lựa chọn một trong hai biện pháp: sửa chữa hay thay thế hàng hóa. Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là căn cứ vào đâu để lựa chọn sửa chữa hay thay thế hàng hóa. Luật Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định gì về vấn đề này, trong khi đó, CISG lại nêu rõ, trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa khi vi phạm của thụ trái cấu thành vi phạm cơ bản, còn trong các trường hợp khác chỉ trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp sửa chữa hàng hóa, loại trừ khuyết tật của hàng hóa.

Về bồi thường thiệt hại, luật Việt Nam và CISG đều quy định các thiệt hại được bồi thường bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Về tính chất của thiệt hại được bồi thường, CISG nhấn mạnh đến tính có thể dự đoán trước của thiệt hại đối với bên vi phạm, còn pháp luật Việt Nam lại nhấn mạnh tính « trực tiếp » và « thực tế » (điều 302 Luật Thương mại năm 2005). Nguyên tắc hạn chế tổn thất đều được ghi nhận tại CISG và Luật Thương mại Việt Nam năm 2005.

Về các trường hợp miễn trách, CISG và pháp luật Việt Nam có cách tiếp cận tương tự khi quy định trường hợp bất khả kháng và trường hợp lỗi của bên bị vi phạm. Ngoải ra, CISG còn quy định cụ thể về việc miễn trách khi do lỗi của bên thứ ba (điều 79) trong khi pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.

Ngoài ra, CISG còn có khá nhiều quy định chi tiết về biện pháp giảm giá hàng (điều 50), về cách áp dụng chế tài khi hợp đồng giao hàng từng phần (điều 71), về việc hủy hợp đồng ngay cả khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ (điều 72), về cách tính tiền bồi thường thiệt hại một cách cụ thể khi hợp đồng bị hủy (điều 75 và 76), về bảo quản hàng hóa đang tranh chấp (từ điều 85-điều 88).

Tóm lại, liên quan đến các chế tài do vi phạm hợp đồng mà CISG và pháp luật Việt Nam cùng quy định, CISG có các quy định đầy đủ và cụ thể hơn so với pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, có vấn đề luật Việt Nam có quy định nhưng CISG lại không quy định (như chế tài phạt) và ngược lại. Một số điểm khác biệt khác cũng cần được lưu ý, như quy định về việc thay thế hàng hóa không phù hợp.

Tuy vậy, cần khẳng định là những sự khác biệt này không tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa CISG và pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa (bởi hai hệ thống này bổ sung cho nhau, mỗi hệ thống được áp dụng cho một loại hợp đồng riêng).

(Nguồn: “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham gia Công Ước Viên 1980″)

CLB Pháp Lý thân chào bạn.

Chúc bạn học tập và công tác tốt !

CÂU 3:

Em xin chào các thầy cô, thầy cô cho em hỏi về so sánh giữa hợp đồng đấu giá và hợp đồng đấu thầu, những điểm giống và khác nhau. Trong đề cương Luật Kinh Tế của trường đề cập không nhiều về 2 hợp đồng này, em muốn tìm hiểu thêm thì có thể tham khảo tài liệu nào ạ ? Mong các thầy cô trả lời giúp em, em xin cảm ơn

TRẢ LỜI:

Chào bạn! Rất vui vì bạn đã quan tâm và đặt câu hỏi cho Ban tư vấn pháp lý. Như bạn trình bày thì hình như bạn đang học học phần luật kinh tế. Theo chúng tôi được biết thì đấu giá bao gồm đấu giá tài sản và đấu giá hàng hóa. Đấu giá được biểu hiện dưới 2 dạng hợp đồng đó là: Hợp đồng bán đấu giá và hợp đồng ủy quyền đấu giá. Còn đấu thầu thì tồn tại dưới dạng hợp đồng mua hàng hóa hay hợp đồng cung ứng dịch vụ. Sau đây, tổ tư vấn xin đưa ra những nét đặc thù nhất của 2 loại hợp đồng này để so sánh.

+ Điểm giống nhau:

-         Là hợp đồng song vụ.

-         Các bên đều có quyền và nghĩa vụ liên quan.

-         Đều có nhiều hơn 2 bên tham gia.

+ Điểm khác nhau:

Hợp đồng đấu giá

Hợp đồng đấu thầu

-         Là hình thức bán hàng hóa, tài sản.

 

-         Là hình thức mua hàng hóa, dịch vụ thông qua mời thầu

-         Được tiến hành công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.

 

 

-         Được thực hiện theo một trong hai hình thức sau: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và để chọn ra thương nhân đáp ứng tốt nhất yêu cầu mà nhà thầu đặt ra.

-         Đối tượng là hàng hóa

 

-         Đối tượng là hàng hóa, dịch vụ.

-         Chủ thể không là thương nhân hoặc chỉ bên bán là thương nhân, trong đó nhiều chủ thể mua sản phẩm

-         Chủ thể đều là thương nhân, trong đó bao gồm nhiều chủ thể cung cấp sản phẩm.

Thứ hai, nếu bạn muốn tìm hiểu thêm thì bạn có thể tham khảo những tài liệu sau:

Ø Về đấu giá:

+ Luật thương mại 2005

+ Bộ luật dân sự 2005

+ Nghị định 17/2010/ NĐ - CP về bán đấu giá tài sản

+ Thông tư số 23/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định 17/2010/ NĐ - CP về bán đấu giá tài sản

Ø Về đấu thầu:

+ Luật đấu thầu số 61/2005/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm 2005

+ Luật thương mại 2005

+ Luật 38/2009/QH12  Sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản

+ Nghị định 85/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng

+ Nghị Định 111/2006/NĐ-CP Hướng Dẫn Thi Hành Luật Đấu Thầu

+ Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng.

CLB Pháp Lý mến chào bạn !

Hãy đến với chúng tôi! Hãy nhấp vào  trong phần "Hỗ trực trực tuyến" bên phải của Youth, các bạn sẽ có được đầy đủ những thông tin chính xác và phù hợp trong mọi lĩnh vực pháp luật!

 

BAN ĐIỀU HÀNH CHƯƠNG TRÌNH

 

 --------------------------------------------------------------------

 

 

Đơn vị thực hiện: Đoàn - Hội, CLB Pháp Lý khoa Luật Kinh Tế
Chỉ đạo thực hiện: Ban Thường vụ Đoàn trường
Hỗ trợ nội dung: Các giảng viên khoa Luật Kinh Tế
Hỗ trợ kỹ thuật: Ban CNTT Đoàn trường.





Gửi bạn bè qua Yahoo!Messenger          

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email




Gửi ý kiến của bạn về bài viết
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Nội dung *
(Hãy tiếng Việt có dấu.)
Mã kiểm tra Mã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra *


Tin cùng chủ đề:



Các bản tin liên quan: Khởi nghiệp
  “Cháy” hết mình với Dynamic 2017
  Ngày hội tuyển dụng nói Tiếng Anh lần đầu tiên tại Sài Gòn
  Chương trình Hội thảo "Anh văn nghề nghiệp và cơ hội việc làm trong thị trường Đông Nam Á"
  Mời các bạn sinh viên tham gia chương trình "Khởi nghiệp cùng MBS" do Trung tâm QHDN - HTSV tổ chức
  Chương trình giao lưu lập nghiệp và làm giàu
  "Tư vấn pháp lý online" số 39
  Mời các bạn sinh viên tham gia lớp học “Giá trị sống” do Nhà Văn hóa Sinh viên tổ chức
  Quỹ Trợ Vốn cho Người Lao Động Nghèo Tự Tạo Việc Làm (Quỹ CEP) thông báo tuyển dụng
  Mời các bạn sinh viên tham gia chương trình Sales Master Program 2013 do Công ty FrieslandCampina Việt Nam tổ chức
  BELL CLUB: Phát âm trong tiếng Anh - Kỳ 2


 Chức năng Youth 


   

 THÔNG TIN CHỈ ĐẠO TỪ ĐOÀN - HỘI TRƯỜNG 
 TB V/v giới thiệu đoàn viên ưu tú xét công nhận cảm tình Đảng đợt 2/2017
QĐ V/v thành lập Chi đoàn Khóa 43 – Đại học chính quy (2017 – 2021) và phân công Đoàn khoa, Đoàn Viện quản lý
TB V/v công bố danh sách Đoàn viên Khóa 43 là lớp trưởng, lớp phó, cán bộ Đoàn của các trường THPT đã chuyển sinh hoạt đoàn về Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
 Các Quyết định V/v công nhận kết quả Đại hội chi đoàn và chuẩn y Ban Chấp hành Chi đoàn Khóa 42 – Giai đoạn chuyên ngành
 Đề án “Nâng cao chất lượng tiếng Anh chuyên ngành các CLB/Đội/Nhóm” GIAI ĐOẠN 2017 – 2019
Kế hoạch tổ chức Chiến dịch tình nguyện Sinh viên Kinh tế năm 2017
 Hoạt động Đoàn - Hội 
 Xếp hạng thi đua Đoàn - Hội năm 2016 

KHOA - KÝ TÚC XÁ - VIỆN


CLB - ĐỘI - NHÓM


 Quảng cáo 

 

 

 

 Gia đình Youth UEH 

TB Cuộc thi Thiết kế sản phẩm tuyên truyền,...

Căn cứ Thông báo số 3226-TB/TĐTN-BTG của Ban Tuyên giáo Thành Đoàn ngày 08 tháng 09 năm 2017 về việc Tuyên truyền, vận động đoàn viên, thanh thiếu nhi tích cực tham gia cuộc thi “Thiết kế sản phẩm...   (Đã đọc:1125)

 
 Tìm kiếm 
 Xem bài theo ngày 
Tháng Chín 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
 <  > 
 Hỗ trợ trực tuyến 
 ĐỌC NHIỀU TRONG TUẦN 
Lịch hoạt động Đoàn TN – Hội SV trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từ ngày 18/09/2017 đến ngày 24/09/2017
QĐ V/v thành lập các chi hội khoá 43 và phân công quản lý
TB V/v tổ chức Đại hội chi hội Khóa 43 - ĐHCQ
Danh sách Ban Chấp hành Đoàn trường nhiệm kỳ XIX (2017-2019)
TB V/v tuyển cộng tác viên tham gia Ban Tình nguyện – Hỗ trợ sinh viên
TB Tổ chức chương trình “Chia tay cán bộ Đoàn – Hội Khóa 39 và chào đón cán bộ Đoàn THPT Khóa 43”
TB V/v Tổ chức sự kiện ra mắt chương trình Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đoàn – Hội trẻ UEH “UEH Youth Leaders Programme” lần II – năm 2017
QĐ Thành lập Ban tổ chức chương trình Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đoàn – Hội trẻ UEH “UEH Youth Leaders Programme” lần II – năm 2017
KH Chương trình “Bạn tôi - Người vượt khó”
Lịch hoạt động Đoàn TN – Hội SV trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từ ngày 25/09/2017 đến ngày 01/10/2017
 Chủ đề 
Góc Sinh viên
    Cảm xúc Sinh viên
    Cẩm nang UEH
    Gương sáng UEH
    Hộp kín online
    UEH Thành đạt
GD– TCXD Đoàn
    Công tác tổ chức
    Làm theo lời Bác
    Những ngày lịch sử
    Đoàn vụ - Đoàn viên
Hội Sinh viên
    Cơ cấu tổ chức
    Giới thệu
    Lịch sử
    Đại hội Hội sinh viên trường Nhiệm kỳ 2010-2013
    Điều lệ Hội
HT-NCKH-QHQT
    Bình luận sự kiện Kinh tế
    Góc Đại cương
    Kho học liệu mở
    Quy định NCKH SV
    Thông báo - Hướng dẫn
Khởi nghiệp
    English Room
    Giới thiệu sách
    Kỹ năng sống
    Khởi nghiệp
    Pháp lý Online
Nhịp cầu UEH
    Cuộc thi Online
    Giao lưu trực tuyến
    Online cùng Youth UEH
    Vấn đề & Bình luận
    Đọc & Suy ngẫm
Nhịp sống UEH
    Bản tin truyền hình STV
    CLB / Đội / Nhóm
    Khoa Kinh tế Phát triển
    Khoa KT-KT
    Khoa Lý luận Chính trị
    Khoa Luật Kinh tế
    Khoa Ngân Hàng
    Khoa QTKD
    Khoa TCDN
    Khoa TCNN
    Khoa Tin học Quản lý
    Khoa TMDL-MAR
    Khoa Toán Thông kê
    Khoảnh khắc UEH
    KTX 135
    KTX 43-45
    Tin hoạt động
Phong trào - Tình nguyện
    Hội thao Sinh viên Kinh tế
    Hoạt động tình nguyện
    Văn hóa - Văn nghệ
Tin tức
    Học bổng - Hỗ trợ Sinh viên
    Lịch tuần Đoàn-Hội
    Thông báo
    Việc làm
Văn bản Đoàn-Hội
    Hệ thống văn bản
    Kế hoạch - Hướng dẫn
    Quy định - Quy chế
    Quyết định - Nghị quyết
Đoàn Thanh niên
    Cơ cấu tổ chức
    Giới thiệu
    Lịch sử
    Đại hội Đại biểu Đoàn trường Nhiệm kỳ 2009-2012
    Đại hội Đại biểu Đoàn trường Nhiệm kỳ 2012-2014
    Điều lệ Đoàn
   ¤   Rss    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Thông tin thành viên [Về đầu trang]  

Bản quyền thuộc về Đoàn Thanh niên - Hội sinh viên Trường ĐH Kinh Tế Tp.HCM
Thiết kế bởi Bùi Quang Hùng (GV) & Nguyễn Quốc Phong (TCNN-K34) - Ban CNTT Đoàn trường